baovesuckhoenguoithan.com

Bệnh lao ở người nhiễm HIV "diễn tiến và dự phòng"

Chương trình Phòng chống AIDS Toàn cầu và Chương trình Chống Lao đặc biệt khuyến cáo: “Cần phải tiêm phòng BCG cho trẻ sơ sinh càng sớm càng tốt, ngay cả khi người mẹ nghi ngờ hoặc đã bị nhiễm HIV. Chỉ không tiêm phòng trong trường hợp trẻ nhiễm HIV có biểu hiện triệu chứng lâm sàng”
Vào 1990, Chương trình chống lao toàn cầu ước tính có khoảng 1,7 tỉ người, tức là khoảng 1/3 dân số thế giới, nhiễm lao. Đến năm 1992, trên toàn cầu có trên 4 triệu người cùng nhiễm HIV và lao. Các nghiên cứu cho thấy nguy cơ diễn tiến thành bệnh lao tiến triển ở các đối tượng HIV(+) thì cao hơn rất nhiều so với những người HIV(-) và theo ước tính nguy cơ tiến triển thành bệnh lao hằng năm ở các đối tượng đồng nhiễm HIV/Lao vào khoảng 5-8%. Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương chiếm trên 60% các trường hợp lao trên toàn thế giới. Thêm vào đó, tình hình nhiễm HIV đang gia tăng nhanh tại các nước châu Á như Thái Lan, Ấn Độ, Myanmar. Hậu quả của điều này là sự gia tăng nhiều trường hợp lao tại Châu Á vì số người nhiễm vi khuẩn lao tại các nước này rất cao. Tại các nước đang phát triển, bệnh lao hiện đang là bệnh nhiễm trùng cơ hội thường gặp nhất ở những người nhiễm HIV. 20-44% bệnh nhân AIDS ở Phi Châu, 18% ở Haiti và trên 25% ở một số nước châu Mỹ La Tinh như Brazil, Mexico và Argentina mắc bệnh lao có biểu hiện lâm sàng trong quá trình nhiễm HIV. Sự trùng lấp giữa bệnh lao và HIV đã mang lại những hậu quả nghiêm trọng về mặt xã hội và y tế nhất là đối với các nước nghèo. Sự gia tăng thêm nhiều cas lao, sẽ làm tăng thêm nhu cầu về mặt chẩn đoán, thuốc điều trị lao, giường bệnh, chăm sóc y tế và các nhu cầu khác. Ở các nước khác, các khu lao trong bệnh viện bị tràn ngập bệnh nhân, đa số là HIV(+) và những con số ngày càng gia tăng ngày nay được nằm tại các khu bệnh không lao. Hơn nữa, các bệnh nhân nhiễm HIV thường mắc lao ngoài phổi, khó chẩn đoán hơn lao phổi. Dịch HIV sẽ làm tình hình lao ở các nước đang phát triển xấu hơn về 3 phương diện: 1. Tái hoạt tình trạng nhiễm lao thầm lặng thành bệnh lao ở những người cùng nhiễm cả 2 (HIV và lao); 2. Làm lây nhiễm vi trung lao (mới nhiễm) và diễn tiến nhanh thành bệnh lao tiến triển ở người HIV(+); 3. Làm gia tăng số cas trong cộng đồng tiếp xúc với các đối tượng HIV(+) mắc bệnh lao. Chiến lược của chương trình chống lao của các nước đang phát triển là gia tăng tỉ lệ khỏi bệnh bằng cách điều trị sớm, tối đa các trường hợp bệnh lao được chẩn đoán và tiếp theo là cải thiện công tác phát hiện: chẩn đoán bệnh càng nhanh càng tốt, càng nhiều càng tốt. Hóa trị liệu ngắn ngày đối với bệnh nhân HIV(+)/Lao cũng có kết quả như đối với bệnh nhân HIV(-) về tỉ lệ khỏi bệnh. Do đó, ngoài việc làm giảm sự đau khổ do bệnh tật mang đến cho bệnh nhân, chương trình chống lao có hiệu quả có thể hạn chế sự gia tăng của việc lây nhiễm, mặc dù có sự gia tăng tần suất mắc bệnh. Hơn nữa, việc điều trị có hiệu quả các bệnh nhân lao, bất kể HIV(+) hoặc HIV(-) sẽ làm giảm tử vong so với khi không điều trị. Hai chiến lược phòng lao chủ yếu được áp dụng tại các nước khác nhau là chủng ngừa BCG và điều trị dự phòng.
A. Vai trò của BCG
Kết quả nghiên cứu mới đây tại Brazzaville, Congo, 64 trẻ sơ sinh có mẹ HIV(+) và 130 trẻ đối chứng (có mẹ HIV(-)) được theo dõi trung bình 36 tháng để xác định có bị biến chứng của tiêm BCG sau khi sinh không. Không có trường hợp nào bị lở loét kéo dài tại chỗ chích, không có các dạng lan tỏa do nhiễm BCG được ghi nhận. Sự xuất hiện hạch viêm/BCG ở nhóm trẻ HIV(+) (24%) không khác biệt rõ rệt so với nhóm trẻ HIV(-) (19%). Các báo cáo này kết luận rằng tiêm phòng BCG thì an toàn, không quan hệ tới tình trạng huyết thanh của trẻ con hay không nhiễm HIV. Vào 1989, một tuyên bố chung của Tổ chức Sức khỏe Thế giới/UNICEF cho Chương trình Phòng chống AIDS Toàn cầu và Chương trình Chống Lao đặc biệt khuyến cáo: “Cần phải tiêm phòng BCG cho trẻ sơ sinh càng sớm càng tốt, ngay cả khi người mẹ nghi ngờ hoặc đã bị nhiễm HIV. Chỉ không tiêm phòng trong trường hợp trẻ nhiễm HIV có biểu hiện triệu chứng lâm sàng”.
B. Điều trị dự phòng
Vì nguy cơ mắc bệnh lao khá cao những người cùng lúc nhiễm HIV/Lao, việc điều trị dự phòng lao cho các đối tượng này hiển nhiên là vấn đề ưu tiên. Do đó, hóa trị liệu dự phòng cho những người nhiễm HIV/Lao được xem như là một trong các biện pháp can thiệp chủ yếu để hạn chế sự gia tăng các trường hợp bệnh lao.
Cơ sở lý luận cho việc điều trị dự phòng gồm 2 điểm:
Thứ nhất, các số liệu từ một số nước cho thấy rằng, bệnh lao ở các đối tượng nhiễm HIV/Lao hiển nhiên gây ra bởi sự tái hoạt các vi khuẩn “ngủ” (dormant) do đó cần phải phòng ngừa bằng hóa trị liệu.
Thứ hai, nguy cơ mắc bệnh lao ở những người HIV(+) thì cao hơn nhiều so với bất kỳ các đối tượng nào khác, do đó đứng về phương diện kinh phí thuốc men điều trị, điều trị dự phòng mang lại hiệu quả kinh tế hơn là điều trị khi đã mắc bệnh. Chỉ nói riêng về kinh phí thuốc men, cần có khoảng 34 triệu USD, theo tính toán là 34 USD/1 bệnh nhân. Ngược lại, giá tiền thuốc INH cho việc điều trị dự phòng tất cả các người nhiễm HIV/Lao chỉ có 6 triệu USD, điều trị dự phòng INH 6 tháng chỉ tốn chưa tới 2 USD/1 bệnh nhân.
08/04/2016 , PTS Phạm Duy Linh - Báo Sức khỏe Thành Phố Hồ Chí Minh – Số 15 + 16 (9/96 + 10/96)

Gửi bình luận

Tên của bạn *
Email *
Cảm nhận *